4. Điệp Cúng Cha Mẹ III
(Tư Độ Vãng Sanh)
Nguyên văn:
資度往生 爲牒薦事。茲據
越南國...省...縣(郡)...社...村、家居奉
佛修香諷經...之晨祈超度事。今... 等、維日謹以金銀香花齋饌庶品菲禮之儀、恭薦于
奉爲...之香靈。
嗚呼、夫妻義重、父子情深、但約龜齡永保、百年歲壽對南山、誰知蝶夢曷殘、一旦香魂歸北府、茫茫長夜、絕無影響形聲、杳杳冥途、不見音容体狀。兹者...今則靈筵肆設、請牒載陳、菩提樹上、依稀兜率之天、明鑒臺前、彷彿涅槃之地。須至牒者。
右牒薦
香靈冥中收執。故牒。
歲次...年...月...日時 、請薦牒
Phiên âm:
Tư Độ Vãng Sanh Vị điệp tiến sự.
Tư cứ: Việt Nam Quốc ... Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, … Thôn, gia cư phụng Phật tu hương phúng kinh ... chi thần, kỳ siêu độ sự. Kim ... đẳng, cẩn dĩ kim ngân hương hoa trai soạn thứ phẩm phỉ lễ chi nghi, cung tiến vu:
Phụng vị ... chi hương linh.
Ô hô ! Phu thê nghĩa trọng, phụ tử tình thâm; đản ước quy linh1 vĩnh bảo, bách niên tuế thọ đối Nam Sơn;2 thùy tri điệp mộng3 hạt tàn, nhất đán hương hồn quy Bắc Phủ;4 mang mang trường dạ, tuyệt vô ảnh hưởng hình thanh; yểu yểu Minh Đồ,5 bất kiến âm dung thể trạng. Tư giả ... kim tắc linh diên tứ thiết, thỉnh điệp tải trần; Bồ Đề thọ thượng, y hy Đâu Suất chi thiên; minh giám đài tiền, phảng phất Niết Bàn chi địa. Tu chí điệp giả.
Hữu Điệp Tiến
Hương linh minh trung thu chấp. Cố điệp.
Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời. Thỉnh tiến điệp.
Dịch nghĩa:
Giúp Được Vãng Sanh điệp xin dâng cúng.
Nay căn cứ: việc gia đình hiện ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh …, nước Việt Nam thờ Phật dâng hương tụng kinh nhân dịp ... cầu xin siêu độ. Nay có ... v.v., kính lấy nghi lễ mọn vàng bạc, hương hoa, cỗ chay, các thứ dâng cúng cho:
Kính vì hương linh ...
Than ôi ! Vợ chồng nghĩa nặng, cha con tình sâu; những mong sống lâu mãi giữ, trăm năm tuổi thọ với núi Nam; ngờ đâu bướm mộng chóng tàn, một sớm hương hồn về Bắc Phủ; mênh mang đêm tối, tuyệt không vang vọng bóng hình; thăm thẳm Minh Đồ, chẳng thấy tiếng tăm thể trạng. Nay lúc … giờ đây cỗ mâm dọn sẵn, điệp thỉnh dâng bày; Bồ Đề cây ấy, thấp thoáng Đâu Suất cõi trời; soi xét trước đài, phảng phất Niết Bàn cảnh giới. Kính dâng điệp nầy.
Kính Điệp Cúng
Hương linh nơi cõi âm nhận lấy. Kính điệp.
Ngày ... tháng ... năm ... Điệp thỉnh cúng.
Chú thích:
- Quy linh (龜齡): tuổi rùa. Rùa là loại động vật có tuổi thọ rất lâu, cho nên xưa kia người ta thường lấy con rùa làm vật tượng trưng cho người có tuổi thọ cao và dùng từ quy linh. Bên cạnh đó, hạc là loài chim sống thành đàn, có số lượng rất nhiều không thể đếm được; vì vậy cũng có từ hạc toán (鶴算). Cụm từ “quy linh hạc toán (龜齡鶴算)” nầy thường được dùng chung để dụ cho người trường thọ cũng như để chúc thọ, đồng nghĩa với quy niên hạc thọ(龜年鶴壽). Nó vốn xuất xứ từ bài từ Thủy Điệu Ca Đầu (水調歌頭, phần Vi Trịnh Tử Lễ Đề Hình Thọ [爲鄭子禮提刑壽]) của Ninh Hầu Trí (甯侯寘): “Tọa hưởng quy linh hạc toán, ổn bội kim ngư ngọc đới, thường cận giả hoàng bào (坐享龜齡鶴算、穩佩金魚玉帶、常近赭黃袍, ngồi hưởng tuổi thọ lâu dài, đeo mãi cá vàng dây ngọc, thường gần áo hoàng bào đỏ)”; cũng như từ bài thơ Du Tiên Thi (遊仙詩) của Quách Cảnh Thuần (郭景純, tức Quách Phác [郭璞], 276-324) nhà Tấn: “Tá vấn phù du bối, ninh tri quy hạc niên (借問蜉蝣輩、寧知龜鶴年, mượn hỏi hàng nhện nước, mới biết tuổi sống lâu).”
- Nam Sơn (南山): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Tiếng gọi tắt của Chung Nam Sơn (終南山), dãy núi kéo dài từ Tỉnh Cam Túc (甘肅省), đi qua Tỉnh Thiểm Tây (陜西省) cho đến Tỉnh Hà Nam (河南省). Trong Cựu Đường Thư (舊唐書), Truyện Lý Mật (李密傳), có đoạn: “Khánh Nam Sơn chi trúc, thư tội vị cùng, quyết Đông Hải chi ba, lưu ố nan tận (罄南山之竹、書罪未窮、決東海之波、流惡難盡, lấy hết tre Chung Nam Sơn mà ghi tội lỗi vẫn không cùng tận, đem cả sóng biển Đông mà rửa nhơ nhớp vẫn khó mà hết được).” Vì dãy Chung Nam Sơn nầy không hề băng hoại và tồn tại mãi với thời gian, cho nên tên của nó thường được dùng để chúc tụng sự nghiệp bền vững, tuổi thọ lâu dài. Vì vậy, thế gian thường có những câu như “thọ tỷ Nam Sơn (壽比南山, sống thọ như Nam Sơn)”, “Nam Sơn chi thọ (南山之壽, tuổi thọ bằng Nam Sơn)”, “như Nam Sơn chi thọ, bất khiên bất băng (如南山之壽不騫不崩, như tuổi thọ bằng Nam Sơn, không lay chuyển và không băng hoại)”, v.v. Trong Thiên Nam Ngữ Lục có câu rằng: “Tuổi vua Phật nguyện thăng bằng, Nam Sơn há sánh, núi trăng xem tày.” (2) Chỉ Kì Liên Sơn (祁連山). (3) Chỉ Nam Bình Sơn (南屛山). (4) Chỉ Kinh Nam Sơn (荊南山), còn gọi là Quân Sơn (君山), Đồng Quan Sơn (銅官山). Tôn Hạo (孫皓, tại vị 264-280) nhà Ngô thời Tam Quốc phong núi này là Nam Nhạc (南岳). Núi tọa lạc tại phía Nam Huyện Nghi Hưng (宜興縣), Giang Tô (江蘇).
- Điệp mộng (蝶夢): giấc mơ biến thành con bướm, còn gọi là hồ điệp mộng (蝴蝶夢), hồ điệp chi mộng (蝴蝶之夢). Sự tích nầy được thuật lại trong Tề Vật Luận (齊物論) của Trang Tử (莊子). Một hôm nọ, Trang Chu nằm mộng thấy mình biến thành con bướm, bản thân ông rất vui mừng, hân hoan tự đắc, quên đi chẳng biết mình là Trang Chu. Đến khi tỉnh dậy, mới biết mình là Trang Chu; chẳng biết giấc mộng của Trang Chu chính la con bướm, giấc mộng của con bướm lại là Trang Chu. Câu chuyện nầy nói lên tâm cảnh Vạn Vật Nhất Thể (萬物一體, vạn vật cùng một thể), không có sự phân biệt giữa chủ thể và khách thể. Trong U Mộng Ảnh (幽夢影) của Trương Triều (張潮, 1650-?) nhà Thanh có một câu nổi tiếng là: “Trang Chu mộng vi hồ điệp, Trang Chu chi hạnh dã; hồ điệp mộng vi Trang Chu, hồ điệp chi bất hạnh dã (莊周夢爲蝴蝶、莊周之幸也、蝴蝶夢爲莊周、蝴蝶之不幸也, Trang Chu mơ làm con bướm, Trang Chu thật may mắn vậy; con bướm mơ làm Trang Chu, con bướm quả bất hạnh vậy).” Câu chuyện nầy còn nêu rõ triết lý nhân sinh vô thường, như mộng huyễn, thời gian trôi qua như chớp mắt, giàu sang, phú quý chẳng thể cầu mong được. Trong bài Cổ Phong Ngũ Thập Cửu Thủ (古風五十九首) của thi sĩ Lý Bạch (李白, 701-762) có đoạn: “Trang Chu mộng hồ điệp, hồ điệp vi Trang Chu, nhất thể cánh biến dị, vạn sự lương du du, nãi tri bồng lai thủy, phục tác thanh thiển lưu (莊周夢蝴蝶、蝴蝶爲莊周、一體更變易、萬事良悠悠、乃知蓬萊水、復作清淺流, Trang Chu mơ bươm bướm, bươm bướm là Trang Chu, một thể lại thành khác, vạn sự tốt dài lâu, mới biết bèo trôi dạt, lại làm dòng nước trôi).” Hơn nữa, trong bài Mãn Giang Hồng (滿江紅) của Cát Đàm (葛郯, ?-?) nhà Tống, được thâu lục trong Toàn Tống Từ (全宋詞), có câu: “Bất quản phù sanh như điệp mộng (不管浮生如蝶夢, chẳng kể phù sinh như mộng bướm).”
- Bắc Phủ (北府): có mấy nghĩa khác nhau. (1) Tên gọi của quân phủ. Khi nhà Đông Tấn lập kinh đô ở Kiến Khang (建康, nay tại phố Nam Kinh [南京], Tỉnh Giang Tô [江蘇省]), quân phủ được thiết lập tại vùng Quảng Lăng (, nay tại phố Dương Châu [揚州], Giang Tô), phía Bắc Kiến Khang; cho nên quân phủ được gọi là Bắc Phủ. (2) Tiếng gọi tắt của binh lính Bắc Phủ. (3) Dưới thời Đông Tấn, Kinh Khẩu (京口) có tên gọi riêng là Bắc Phủ. (4) Tên gọi của một tập đoàn bộ lạc Khiết Đan (契丹).
- Minh Đồ (冥途、冥塗): chỉ cho thế giới mê ám, tối tăm của người chết; còn gọi là Minh Thổ (冥土), Minh Phủ (冥府), Minh Giới (冥界), U Đồ (幽塗), Huỳnh Tuyền (黃泉), Minh Lộ (冥路). Theo Tịnh Độ Tam Muội Kinh (淨土三昧經), Thập Vương Kinh (十王經), v.v., nơi cõi Minh Đồ có vua Diêm Ma (閻魔), rất nhiều minh quan, Thập Vương như Tần Quảng Vương (秦廣王), v.v., chuyên trừng phạt tội lỗi của phạm nhân. Tại Trung Quốc, tín ngưỡng Minh Phủ của Thái Sơn Phủ Quân (太山府君) thời cổ đại cũng có cùng tư tưởng như vậy. Đối với Nhật Bản, từ thời Trung Đại trở về sau, rất thịnh hành tín ngưỡng cho rằng giữa đường đi qua Minh Phủ có Tam Đồ Xuyên (三途川, sanzugawa) và Tái Hà Nguyên (賽の河原, sai-no-kawara, nơi người con bất hiếu chịu những cực hình, hằng ngày chất đá làm tháp cúng dường song thân đã quá vãng). Về phía Phật Giáo, Minh Đồ chỉ cho chốn Địa Ngục, Ngạ Quỷ. Như trong Tú Nhu Ký (繡襦記), phần Dịch Mục Khuyến Học (剔目勸學) của Từ Lâm (徐霖, 1462-1538) nhà Minh có câu: “Ngã tại Minh Đồ hồi chuyển, thượng ngột tự tâm đầu hỏa nhiên (我在冥途回轉、尚兀自心頭火燃, tôi ở cõi Minh Đồ xoay quanh, lại ngớ ngẩn tự trong tâm bốc lửa).” Hay trong Quy Sơn Cảnh Sách Chú (溈山警策註, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1294) lại có câu: “Tiền lộ vị Minh Đồ, Ngũ Thú mang mang, sở trú vô định (前路謂冥途、五趣茫茫、所往無定, đường phía trước là Minh Đồ, năm cõi mờ mịt, chỗ ở vô định).” Trong nghi thức Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn có đoạn thán: “Hắc hắc minh đồ vô nhật nguyệt, mang mang nghiệp hải thiêu từ hàng (黑黑冥途無日月、茫茫業海少慈航, tối tăm Minh Đồ không nhật nguyệt, mênh mông biển nghiệp ít thuyền từ).”